Tôi sinh năm 1928. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ tôi tham gia đội du kích tập trung, được kết nạp Đảng tháng 5-1948, mang bí danh là Hoàng Trọng Tuyến. Tháng 3-1951, tôi được bổ nhiệm chính trị viên trung đội 3, bộ đội địa phương huyện Gia Lâm, chỉ huy chiến đấu lập nhiều thành tích. Ngày 21-6-1953, do có chỉ điểm, địch càn vào xã Kim Sơn (Gia Lâm) tìm được hầm bí mật của tôi và đồng chí Dương Văn Oanh trong nhà bếp của cụ Lê Thị Tần (cụ Buồm), thôn Linh Quy Bắc và một hầm có các đồng chí Đống, Núi, Áp, Mùi ở thôn bên cạnh. Địch đốt nhà cụ Tần, luân chuyển 6 chúng tôi qua các bốt Tiếu, Lạc Đạo, Kẻ Sặt, nhà tù Hải Dương vừa hỏi cung vừa tra tấn dã man nhưng không khai thác được gì. Cuối cùng chúng đưa tôi và ba đồng chí Đống, Mười, Áp ra Phú Quốc. Tôi mang số 212615 và tù ở trại 2. Nhà tù Phú Quốc khi đó có 4 trại, khoảng 14 ngàn tù binh gồm 4 loại: trung kiên bất khuất, bình thường, cầu an và loại phản bội làm tay sai cho địch. Chúng tôi bắt liên lạc ngay với tổ chức Đảng. Đó là các đồng chí Lê Bình, sau này là Đại tá, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Bắc Ninh; đồng chí Lê Hữu Xe, khi ra tù làm Chủ tịch huyện Gia Lâm; đồng chí Phùng Văn Kim, sau về Cục Dự trữ vật tư Nhà nước. Tôi được phân công vào Liên chi bộ 2 Bắc Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang) và phụ trách 4 tổ đảng gồm tổ Gia Lâm, tổ Thuận Thành, tổ Gia Lương và tổ Từ Sơn - Yên Phong… Bọn cai ngục phải thay đổi cách quản lý tù nhân nhưng đều thất bại. Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, ngày 22-8-1954, tôi được trao trả tại Sầm Sơn, Thanh Hóa. Trở về tiếp tục công tác, tôi nghỉ hưu năm 1979, đã nhận Huy hiệu 55 năm tuổi đảng.

Em trai tôi là Nguyễn Văn Chúc, sinh 1934. Gia đình là một cơ sở cách mạng, nên em tôi làm mọi việc như liên lạc, nuôi giấu cán bộ, tham gia dạy chữ quốc ngữ… Ngày 20-9-1950, địch càn quét làng Gia Thượng và phát hiện một hầm bí mật. Trong hầm có 5 đồng chí là Huệ (Huyện ủy viên Gia Lâm), Trường và Loan (cán bộ bộ đội địa phương), Giang (cán bộ thông tin tuyên truyền huyện) và đồng chí Thủy. Địch ném lựu đạn xuống hầm làm 2 người bị thương, dồn dân làng tới chứng kiến và bắt Chúc xuống hầm hai lần xem có bao nhiêu người, Chúc trước sau chỉ trả lời: không có ai. Địch không tin, đánh em rồi cho một người khác xuống, người này kêu: nhiều lắm. Thế là một tên to béo liền nắm hai chân Chúc quật đầu vào gốc cây. Những tên gần đó dùng báng súng, giày đinh đánh rất dã man. Mặt Chúc rách sâu, máu chảy ra mồm, quần áo và da thịt em lẫn với bùn đất. Mẹ tôi đã ngất đi khi chứng kiến cảnh này. Người cùng hoạt động thì lo Chúc không chịu được đau mà khai báo. Địch đưa Chúc và những cán bộ bị bắt về nhà giam phòng nhì (nhà Vôi) trong sân bay Gia Lâm. Chúc nói với dân làng: Mọi người cứ yên tâm, em không khai đâu. Đêm hôm ấy, chúng đã đánh chết Nguyễn Văn Chúc khi em chưa đầy 16 tuổi. Cuối năm 1968, gia đình tôi được nhận bằng Tổ quốc ghi công và Nguyễn Văn Chúc được truy tặng danh hiệu “Liệt sĩ thiếu nhi”. Ngày 26-11-2006, Phòng LĐ-TBXH quận cùng lãnh đạo phường và gia đình đã tổ chức truy điệu Chúc rồi đưa hài cốt về an táng tại NTLS quận Long Biên.

Vợ tôi, bà Hoàng Thị Hoan làm giao thông liên lạc xã và tham gia Hội Phụ cứu quốc năm 1947, được kết nạp vào Đảng tháng 9-1949, bị địch bắt tháng 1-1953. Khi ấy bà là Bí thư Hội Phụ nữ xã, tổ trưởng đảng làng Gia Thượng kiêm giao thông viên của Huyện ủy Gia Lâm, mới đẻ đứa con đầu lòng được 2 tháng 5 ngày tuổi. Chúng tra khảo mong bà khai ra cơ sở của ta nhưng bà chỉ nói mình là người đi chợ. Đứa con trai chỉ sống được 9 tháng thì chết do thiếu sữa mẹ và bị bệnh ỉa chảy. Địch chuyển bà sang giam ở nhà Tiền (nay là Nhà máy in Tiến Bộ). Ngoài những giờ hỏi cung, tra tấn, tù nhân phải đi làm lao động khổ sai như dọn phòng, tạp dịch. Bà Hoan được đi lao động ngoài trại giam, có điều kiện chắp nối với tổ chức Đảng trong tù. Chi bộ Đảng giao cho bà làm giao thông liên lạc với bên ngoài. Bà đã bắt mối với cơ sở kháng chiến là bà Đích (làng Ái Mộ). Hai cán bộ bộ đội Văn Giang (Hưng Yên) trước khi bị bắt đã kịp giấu vũ khí và tài liệu. Khi vào nhà Tiền báo cáo với chi bộ Đảng, chi bộ yêu cầu bà Hoan báo về Huyện đội Văn Giang và đã tìm được toàn bộ số vũ khí và tài liệu. Tháng 5-1954, bà Hoan được trao trả tự do. Bà tiếp tục công tác và giữ nhiều cương vị ở địa phương, nghỉ hưu tháng 7-1983 và năm 2011 nhận Huy hiệu 50 năm tuổi đảng.

Thân sinh ra tôi là hai cụ Nguyễn Văn San và Nguyễn Thị Sấu đều có cảm tình với cách mạng. Trong vùng địch tạm chiếm, hai cụ đào gần 10 chiếc hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ. Tháng 10-1949 địch ập vào nhà bắt cụ San đưa về giam ở nhà Rượu (căng 21) dốc cầu Long Biên. Chúng cũng kẹp dây dẫn vào vú vào tai cụ rồi quay điện và các nhục hình ngâm nước, trói treo, uống nước xà phòng… bắt cụ khai các cơ sở của ta và đi gọi tôi ra hàng. Sau một tháng tra tấn tàn ác địch phải bó tay, trả tự do cho cụ. Trở về cụ San lại tiếp tục hoạt động cho đến ngày toàn thắng. Gia đình tôi được công nhận là gia đình có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương Kháng chiến hạng nhất.

Vợ chồng tôi nghỉ hưu khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Ban đầu tôi mở xưởng mộc để sửa chữa những dụng cụ bằng gỗ, sản xuất khuôn đúc công nghiệp và đóng các loại giường tủ, bàn, ghế sinh hoạt. Cuối năm 2000, tôi chuyển sang sản xuất hàng thủ công cơ khí. Gồm một xưởng với 10 công nhân chuyên đột, dập, uốn, ép tay lái, chân chống, khung yên, đuôi, càng xe đạp, xe máy… một xưởng 40 công nhân mạ và đóng gói hàng hóa, 3 ô tô để vận chuyển. Doanh thu mỗi năm gần 6 tỷ đồng, đóng thuế và trừ mọi chi phí còn gần 1 tỷ đồng. Gia đình tôi ủng hộ xây dựng hội trường của phường, tu sửa đền Lý Thường Kiệt, đình làng, lát gạch đường ngõ và các quỹ của địa phương hàng trăm triệu đồng. Từ tháng 5-2007 đến nay tôi nhận đỡ đầu đến 18 tuổi 3 cháu có hoàn cảnh khó khăn là Nguyễn Thị Bích Liên sinh 1995, Nguyễn Quang Vinh sinh 1999 và Nguyễn Quý Hiển sinh năm 2002, mỗi cháu 150.000 đồng/tháng.

Với những kết quả trên, năm 2007 gia đình tôi được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tặng bằng khen là gia đình văn hóa tiêu biểu xuất sắc trên toàn quốc.

TÔ KIỀU THẨM (ghi)