Từ đó dẫn tới, USD thế giới giảm mà USD ở trong nước lại tăng; lãi suất của thế giới giảm thấp, còn lãi suất ở ta cao. Huy động phải tới 12-14%; cho các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất vay cũng phải 15-16%, thậm chí tới 20-22%. Trước tình hình này, gây khó khăn cho các doanh nghiệp; một số có nguy cơ phá sản.

Xoay quanh vấn đề trên, Ban biên tập Báo CCB Việt Nam vừa nhận được Bản kiến nghị của ông Nguyễn Hữu Đường, Tổng giám đốc Công ty thương binh nặng Hòa Bình. Chúng tôi xin đăng toàn văn Bản kiến nghị này.

Công ty thương binh nặng Hòa Bình được thành lập từ năm 1987; tiền thân ban đầu là Tổ hợp thương binh Hòa Bình, gồm 9 người, trong đó có 7 người là thương binh nặng. Trải qua 23 năm xây dựng và trưởng thành, cho đến nay, tổng số lao động trong Công ty và các đơn vị thành viên lên tới trên 2.000 người, trong đó nòng cốt là các anh em thương binh, bệnh binh. Lĩnh vực hoạt động chính của Công ty là sản xuất các sản phẩm cơ khí ngành công nghiệp thực phẩm, sản xuất thiết bị cơ kim khí ngành may mặc, sản xuất thép không gỉ, sản xuất malt (nguyên liệu làm bia)… Đây là những mặt hàng được Công ty sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước.

… Giữa năm 2008, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam tăng cao, lãi suất ngân hàng tăng 21-23%/năm, đặc biệt là sự điều hành yếu kém của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã tạo nên sự chênh lệch rất lớn về tỷ giá đồng đô-la Mỹ; ví dụ cụ thể:

  • Ngày 6-6-2008, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam công bố giá bán USD là 16.285 đồng/USD, nhưng Công ty chúng tôi phải mua USD với giá thỏa thuận của ngân hàng là 18.350 đồng/USD (chênh lệch 12,6%).

  • Ngày 13-6-2008, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam công bố giá bán USD là 16.621 đồng/USD, nhưng Công ty chúng tôi phải mua đô-la Mỹ với giá thỏa thuận của ngân hàng là 18.300 đồng/USD (chênh lệch tăng 10,1%).

  • Ngày 23-6-2008, Công ty chúng tôi đã có công văn kiến nghị lên Thủ tướng Chính phủ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, ngày 25-6-2008, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 970/TTg-KTTH, chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính về vấn đề bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp. Ngay sau đó, giá đô la Mỹ được kéo trở lại giá 16.285 đồng/USD.

Tình trạng chênh lệch tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đô-la Mỹ lại liên tục tăng cao từ giữa tháng 10-2010 đến nay; cụ thể:

  • Ngày 16-11-2010, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam công bố giá bán USD là 19.500 đồng/USD, nhưng Công ty chúng tôi phải mua USD với giá thỏa thuận của Ngân hàng là 20.400 đồng/USD (chênh lệch 4,6%).

  • Ngày 24-12-2010, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam công bố giá bán USD là 19.500 đồng/USD, nhưng Công ty chúng tôi phải mua đô-la Mỹ với giá thỏa thuận của ngân hàng là 21.120 đồng/USD (chênh lệch tăng 8,3%).

Tình trạng này kéo dài đã hơn 2 tháng nay và cho đến bây giờ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước vẫn không có ý kiến hoặc một động thái nào để điều tiết, khiến cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sản xuất các mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu bị thiệt hại nghiêm trọng, không thể cạnh tranh được với hàng hóa của các nước trong khu vực và thế giới.

Trong các cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới, các nước phải giảm lãi suất ngân hàng để kích thích sản xuất, ví dụ ở Mỹ, lãi suất ngân hàng chỉ từ 0-1%/năm; mức lãi suất của các nước khác trong khu vực chỉ 0-5%/năm. Trong khi mức lãi suất của Việt Nam hiện nay là 18-18,5%/năm. Đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu, nguyên liệu đầu vào vẫn phải nhập khẩu và phải mua bằng đô la Mỹ với tỷ giá chênh lệch từ 7-10%. Vì vậy, nếu tình trạng này kéo dài, chắc chắn các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải ngừng hoạt động và dẫn đến phá sản hàng loạt. Việc này chỉ có lợi cho sự đầu cơ và làm thiệt hại cho tất cả các doanh nghiệp, thiệt hại cho nền kinh tế của đất nước (vì các doanh nghiệp trong nước thua lỗ sẽ không có đóng góp cho ngân sách).

  • Các doanh nghiệp trong nước phải chịu lãi suất ngân hàng cao, chính sách tỷ giá ngoại tệ 2 giá đã gây nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước, dẫn đến các doanh nghiệp này phải đóng cửa. Từ khi Mỹ xóa bỏ cấm vận và Việt Nam ra nhập WTO, các nhà máy cơ khí ở miền Bắc, những lá cờ đầu của ngành công nghiệp Việt Nam đã phải đóng cửa và giải thể hàng loạt, ví dụ: Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, cơ khí Hà Nội, cơ khí Giải phóng, Ô tô 3-2, cơ khí Ngô Gia Tự, nhà máy Dệt 8-3, dệt Nam Định… đặc biệt ở Việt Nam, có một nhà máy sản xuất kim khâu – công ty cổ phần cơ kim khí Hà Nội được trang bị dây chuyền sản xuất kim khâu mua của Nhật từ năm 1982, nhưng cho đến năm 2006, dây chuyền sản xuất kim khâu đã phải ngừng hoạt động do chất lượng kém, không cạnh tranh được với kim nhập khẩu từ Nhật, Đức và Trung Quốc vì các yếu tố: lãi suất ngân hàng cao, dây chuyền sản xuất đã quá cũ và lạc hậu. Thực tế nền công nghiệp của chúng ta, từ những thứ nhỏ nhất là cái kim đến các máy móc, thiết bị cũng phải đi nhập khẩu; việc này dẫn đến tình trạng nhập siêu của Việt Nam không biết đến bao giờ mới hết. Từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay, thời hạn chúng ta phải giảm thuế suất các mặt hàng xuống còn 0-5% đang tiến đến gần thì chúng ta càng khó cạnh tranh với các nước trong khu vực và thế giới. Nếu sản xuất công nghiệp không phát triển thì đất nước không có được nguồn thu, trong khi nguồn tài nguyên khoáng sản, dầu mỏ, than đá, kim loại… của Việt Nam đang dần cạn kiệt, nợ nước ngoài sắp đến hạn phải trả.

Sau đây là kiến nghị của Công ty thương binh nặng Hòa Bình chúng tôi:

1/ Năm 2011, chính sách tiền tệ phải thực hiện đúng như Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã đề xuất.

2/ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước phải nắm chắc tình hình để điều hành một cách chủ động, linh hoạt và thận trọng; đặc biệt là điều hành tỷ giá ngoại tệ.

3/ Chính sách tiền tệ phải vừa đảm bảo kiềm chế lạm phát, đồng thời vừa phải bảo đảm khả năng thanh khoản của nền kinh tế; cung ứng tiền bạc cho sự phát triển của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế khác của đất nước.

Là những người lính, những thương binh, bệnh binh từng kinh qua các cuộc chiến tranh vệ quốc, không ít đồng đội đã hy sinh xương máu, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, hôm nay, chúng tôi sẵn sàng chia sẻ những khó khăn mà đất nước đang gặp phải trong quá trình hội nhập. Trên đây là những ý kiến tâm huyết, phản ánh chân thực mọi suy nghĩ trước thực tế sinh động của công cuộc đổi mới; thể hiện trách nhiệm với Đảng, với dân tộc; mong muốn Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, đất nước ta ngày càng phát triển nhanh và bền vững. Cùng với toàn dân, chúng tôi hy vọng Đại hội Đảng lần thứ XI sẽ thành công tốt đẹp, chọn được những đồng chí có đủ đức, đủ tài, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, vượt qua mọi rào cản, xây dựng đất nước giầu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tổng giám đốc Công ty thương binh nặng Hòa Bình

NGUYỄN HỮU ĐƯỜNG