Để tường tận mọi vấn đề, PV Báo CCB đã gặp và tiếp cận một số người có am hiểu về Di tích Nà Pậu để nghe lại một số câu chuyện sung quanh việc phục hồi di tích này, thì tất cả đều khẳng định; ở huyện Chợ Đồn nói chung, xã Lương Bằng nói riêng đều không có những căn nhà bằng gỗ lim thời bấy giờ, ngay cả trên rừng hiện nay cũng hiếm cây gỗ lim, bởi đất rừng Chợ Đồn chỉ phù hợp với các loại gỗ tự nhiên khác như; kháo, de, dổi, phay, vạng… những nơi núi đá ở phía Bắc huyện như xã; Xuân Lạc, Nam Cường, Bản Thi, Đồng Lạc, Quang Bạch có nhiều cây gỗ quí như: đinh, nghiến và lát. Những năm 1951 của thế kỷ trước, người dân Chợ Đồn còn nghèo nàn, nhà ở rất sơ sài, phần nhiều cuộc sống dựa vào nương rẫy, năng suất lúa ruộng thấp, kinh tế khó khăn, đói kém họ phải di chuyển theo mùa vụ của nương rẫy, mong kiếm đủ lương thực ăn trong năm, do đó rất ít người có thể làm được nhà to hoặc làm bằng gỗ quí hiếm. Hơn nữa, chăn nuôi không phát triển, nên các loại thực phẩn dựa vào việc săn bắt, hái lượm tự nhiên. Chính vì vậy, những căn nhà sàn của cư dân bản địa ở xã Lương Bằng (cùng thời Bác Hồ ở Nà Pậu vào đầu năm 1951) vẫn hay làm nhà bằng cột ngoằm, sử dụng vật liệu chủ yếu là bằng tre, mai hoặc loại gỗ mềm (như phay, muồn, kháo, dổi, de, vạng) vì ngày đó chất thép để làm cưa, đục, dao, dìu để đẽo gọt gỗ không luyện tốt như bây giờ, nên gỗ quí như đinh, nghiến là ít khi dân dùng làm nhà (vì gỗ quí rất nặng và cứng rắn nên khó đục đẽo). Đến sau những năm 1975, hoà bình lập lại và thông nhất hai miền Nam - Bắc, cùng với mô hình kinh tế mới là HTX nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, lên đến đỉnh cao ở miền núi, người dân mới có điều kiện giúp nhau cải thiện nơi ở, họ làm nhà sàn to, cột lớn và đục lỗ xuyên rồi khâu nối thành vỉ cột, từ đó những căn nhà sàn lớn ra đời với 3 loại nhà phổ biến (một loại bình dân là 28 cột, loại khá hơn 32 cột và loại cao to nhất đến 48 cột).
Chính vì vậy, ý kiến của người dân sở tại đều cho rằng; Các cơ quan chức năng phục hồi lán Cảnh vệ và lán Bác Hồ ở Nà Pậu làm toàn bằng loại gỗ lim quí hiếm, lắp đặt cho lán từ; cột, kèo, ván lát sàn… thì quá xa vời so với thực tế! Vì Bác Hồ ở Nà Pậu trong khoảng thời gian rất ngắn, chỉ khoảng 2 tháng mà công làm lán trại quá công phu, gỗ cột bào bóng lộn như thế sẽ tốn kém mất nhiều công sức, tiền của, như vậy chắc Bác sẽ không đồng ý, vì lúc đó cả nước đang dồn từng hạt gạo cho chiến tranh, tất cả các việc phải lo cho tiền tuyến thì Bác sẽ không nỡ nào ở trong một lán hoành tráng đến như vậy?
Riêng hầm trú ẩn của Bác Hồ đã được cán bộ ngành Văn hoá TT&DL Bắc Kạn cho đơn vị thi công gia cố lại hầm cũ rất cẩn thận, bằng cách đào thêm vào vách đồi, rồi kè mái đất, xây khuôn cửa, lắp một tấm cửa kín mít bằng thép trắng toát theo khung lùa, rồi khoá lại, nom thì rất đẹp và kiên cố, tạo sự an toàn tuyệt đối. Trong khi hầm trú ẩn của Bác Hồ có từ trước đó, ai nhìn thấy cũng rất đơn giản, chỉ là một chiếc hố sâu khoảng 1,5 mét, ngay gần bờ ruộng, kề sát vách đồi phía dưới lán Bác ở, và cách lán khoảng 80mét, hầm rộng khoảng hơn 1 mét, sâu vào đồi khoảng 3 mét, chẳng có cửa chắn gì cả, nên ai đã từng đến xem hầm trú ẩn cũ của Bác Hồ nay mà quay lại sẽ thấy việc làm mới này nó rất khác biệt bởi sự lạ lẫm đến không tưởng…!?
Chúng tôi xin chuyển một số ý kiến mới của dư luận đến lãnh đạo tỉnh Bắc Kạn xem xét và trả lời; Liệu Di tích lịch sử Nà Pậu, nơi Bác Hồ từng ở và chỉ đạo kháng chiến Chống thực dân sâm lược năm 1951 có phản ánh đúng như thực tế không?

Minh Bạch