Tên tôi là Nguyễn Nam Tiến, thường trú tại tổ 5, khu 4, phường Giếng Đáy, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. CMND số 100077402 do Công an tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 18-7-20001. Tôi viết đơn này rất mong được Ban biên tập quan tâm, giúp đỡ tôi thoát khỏi cảnh bần cùng, bĩ cực hiện nay. Vụ việc cụ thể như sau:

Năm 1989, tôi được HTX Hợp Tiến, trụ sở tại phường Bãi Cháy, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh thanh lý cho một ngôi nhà cấp 4, gắn liền trên mảnh đất có diện tích 243,8m2. Năm 1991-1992, tôi và hộ bà Hoàng Thị Nhá có ý tưởng chuyển nhượng cho nhau ngôi nhà cấp 4, có diện tích 80m2, cùng mảnh đất 243,8 m2. Nhưng vì lúc đó, hộ bà Nhá chưa có tiền trả tôi, nên việc chuyển nhượng chưa được thực hiện. Sau đó, tôi đi làm ăn xa. Vì hộ bà Nhá là quan hệ gia đình, nên tôi đã gửi nhà cho hộ bà Nhá, khi hộ bà Nhá có đủ điều kiện thanh toán, chúng tôi sẽ làm thủ tục pháp lý, bàn giao nhà sau.

Năm 1998, khi Nhà nước tổ chức đo vẽ bàn đồ địa chính, hộ bà Nhá không thông báo cho tôi biết mà mạo nhận nhà và đất là của họ. Họ tự đứng ra kê khai, công nhiên chiếm đoạt thửa đất số 06, tờ bản đồ địa chính 94, diện tích 243,8m2 của tôi. Hơn thế nữa, sau đó hộ bà Hoàng Thị Nhá tự ý cắt mảnh đất của tôi chuyển bán cho vợ chồng các ông bà: Nguyễn Thanh Quy và Nguyễn Thị Bẩy 79,8m2; Lê Minh Sơn - Đoàn Thị Cúc 86,6m2. Phần nhà, đất còn lại hộ bà Nhá đang chiếm giữ 77,4m2. Không hiểu vì lý do gì, UBND phường Bãi Cháy và Phòng TNMT TP Hạ Long không xem xét đến nguồn gốc đất đã vội cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho 2 hộ này.

Căn cứ những việc làm vi phạm pháp luật của các hộ kể trên, ngày 22-9-2008, tôi đã làm đơn khởi kiện hộ bà Hoàng Thị Nhá, gửi TAND TP Hạ Long, yêu cầu hộ bà Nhá trả tôi nhà và đất bị chiếm đoạt. Ngày 5-11-2008, TAND TP Hạ Long đã lập hồ sơ số 39/TCDS, thụ lý vụ án dân sự kiện đòi tài sản. Trong quá trình bổ sung chứng cứ, theo quy định của pháp luật, tôi có đủ điều kiện để khởi kiện, với các nội dung sau:

  • Yêu cầu TAND TP Hạ Long xét xử bà Hoàng Thị Nhá, trả lại tôi ngôi nhà cấp 4, diện tích 80m2 mà HTX Hợp Tiến, phường Bãi Cháy đã thanh lý cho tôi, hiện bà Nhá đang chiếm giữ, gắn liền trên 243,82m2 đất ở của tôi, vì chiếm đoạt không có căn cứ pháp lý và không ngay tình.

  • Yêu cầu TAND TP Hạ Long, tuyên bố: giao dịch chuyển nhượng đất ở (của tôi) nhưng hộ bà Hoàng Thị Nhá đã mạo mhận là đất của mình, chuyển bán cho hai hộ Lê Minh Sơn - Đoàn Thị Cúc (chiếm giữ 86,6m2); Nguyễn Thanh Quy - Nguyễn Thị Bẩy chiếm giữ (79,8m2) vô hiệu. Vì hai giao dịch chuyển bán này vi phạm vào điều cấm của pháp luật, không ngay tình kể từ khi bắt đầu giao kết (cả 3 hộ và nhà đất đều ở tổ 1, khu 8, phường Bãi Cháy, TP Hạ Long). Hai hộ mua đất ở từ hộ bà Nhá cùng là bị đơn trong vụ kiện này, vì chiếm hữu trái pháp luật và không ngay tình nhà và đất ở của tôi.

Thế nhưng, thay vì đưa vụ án ra xét xử, TAND TP Hạ Long đã không thực hiện đúng pháp luật, thiếu công tâm trong quá trình điều tra thụ lý, làm cho vụ án trở nên phức tạp, kéo dài một cách khó hiểu. Cả ba thẩm phán thụ lý vụ án này đều vi phạm Luật Tố tụng dân sự (TTDS). Tôi đã nhiều lần làm đơn khiếu nại, nhưng nhiều lần không được trả lời. Còn lần nào TAND TP Hạ Long trả lời, lại đều viện dẫn những lý do thiếu khách quan, không đúng sự thật, gây rất nhiều khó khăn cho tôi. Đơn cử trong Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 41/2010/QĐ-CCCC ngày 8-1-20010 và Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 42/2010/QĐ-CCCC ngày 8-6-2010 của TAND TP Hạ Long ban hành, đều trái với quy định của Luật TTDS đang hiện hành và những quy định hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán TANDTC. Quyết định số 42/20010/QĐ do Thẩm phán Trần Thị Mỹ Hạnh ký ngày 8-6-20010, yêu cầu tôi cung cấp chứng cứ về giá trị đất “tính bằng đồng Việt Nam tại thời điểm tranh chấp hiện nay, để có cơ sở tính án phí của vụ án” là việc làm sai trái; vì ngày 5-11-2008, tôi đã nộp tiền tạm ứng án phí theo đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, tôi đã cung cấp đủ các chứng cứ, có nội dung rất rõ ràng, phục vụ cho việc xét xử của tòa án. Tôi đã nhiều lần làm đơn khiếu nại những quyết định trên (kể cả có những đơn giải trình, phân tích, dẫn chứng, viện dẫn những căn cứ pháp lý, chứng minh cho việc tôi đã cung cấp những tài liệu đã rõ ràng, phục vụ cho việc khởi kiện của tôi, nhưng TAND TP Hạ Long vẫn không hề để ý, xem xét). Ngày 19-7-2010, ĐTPTAND TP Hạ Long đã mời tôi đến để giải quyết đơn khiếu nại ngày 28-6-2010 của tôi. Trong biên bản làm việc, đại diện của TAND đã hứa “Sẽ có văn bản trả lời nội dung khiếu nại ngày 28-6-2010 theo đúng pháp luật...”; nhưng tôi không hề nhận được công văn trả lời, mà thay vào đó 4 tháng sau, ngày 11-10-2010, TAND TP Hạ Long vẫn tiếp tục ra hai thông báo (không ghi số) yêu cầu tôi phải cung cấp chứng cứ không khác với hai quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ trước đó (trong đó có yêu cầu tôi cung cấp chứng cứ về nội dung hợp đồng chuyển nhượng đất của tôi, mà hộ bà Nhá đã mạo nhận bán cho 2 hộ Sơn - Cúc, Quy - Bẩy).

Ngày 8-12-2010, tôi lại có đơn kiến nghị về việc TAND TP Hạ Long thời gian kéo dài trên 2 năm không đưa vụ án ra xét xử. Ngày 11-12-2010, TAND TP Hạ Long có Công văn số 2496/2010 CV-TA (về việc trả lời khiếu nại). Trong công văn có đoạn viế:t “...Đối với yêu cầu khởi kiện: Hủy hai hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông bà Thanh - Nhá với các hộ Sơn - Cúc và Quy - Bẩy. Hiện ông chưa cung cấp được tài liệu hai hợp đồng này, ông có đề nghị tòa án thu thập. Tòa án đã có văn bản đề nghị UBND TP Hạ Long, yêu cầu cung cấp 2 hợp đồng này, nhưng chưa được cung cấp, nên chưa có căn cứ để thụ lý...”. Thực tế không phải như vậy. Đơn ghi ngày 25-4-2010, tôi yêu cầu TAND TP Hạ Long thu thập chứng cứ, từ thời điểm đó đến nay, TAND TP Hạ Long vẫn chưa thu thập được. Hơn nữa, đơn khởi kiện của tôi gửi đến TAND TP Hạ Long đã chỉ rõ: Hai hộ Sơn - Cúc, Quy - Bẩy là bị đơn. Đầu năm 2010, tôi đã nộp cho TAND TP Hạ Long nhiều tài liệu của UBND phường Bãi Cháy, Phòng TNMT TP Hạ Long, xác nhận: đã làm giấy chứng nhận QSDĐ cho hai hộ Lê Minh Sơn - Đoàn Thị Cúc, Nguyễn Thanh Quy - Nguyễn Thị Bẩy, thì việc để có hai hợp đồng chuyển nhượng đất (có trong hồ sơ giấy QSDĐ) của hai hộ trên, thì có thể nói là Tòa án đã có chứng cứ trong tay. Thế nhưng, TAND TP Hạ Long vẫn đưa ra lý do “...chưa được cung cấp , chưa có căn cứ để thụ lý...” (trích Công văn số 2469/2010/CV-TA, ngày 11-12-2010, của TAND TP Hạ Long) trả lời tôi thì quả thật là điều rất khó hiểu...

Sự thực, vụ án này “không có tính chất phức tạp”, không phải là “vụ án có trở ngại khách quan” (theo như quy định hướng dẫn thi hành Điều 179, Luật TTDS - Nghị quyết 02/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án NDTC) nhưng vẫn bị kéo dài. Việc kéo dài, không đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định pháp luật, TAND TP Hạ Long đã và đang đẩy tôi vào hoàn cảnh khốn khổ. Hiện tôi không có nhà ở, không có nguồn thu nhập và mất rất nhiều thời gian, công sức để theo kiện.

Nguyễn Nam Tiến