Báo CCB Việt Nam ra ngày 8-12-2011 phản ánh, TAND TP Cần Thơ chấp nhận những chứng từ “giả” mà phía nguyên đơn là Cty Nguyễn cung cấp làm chứng cứ đã làm cho Cty Đức Thành thiệt hại hơn 40 tỷ đồng. Không dừng lại ở con số trên, tòa còn xử theo hướng có lợi cho Cty Băng Dương, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…

Cty Băng Dương do ông Phạm Văn Cường làm Giám đốc, trụ sở tại phường Đa Kao, quận 1, TP Hồ Chí Minh cũng được hưởng lợi gần 10 tỷ đồng và hơn một triệu USD do tòa “nặn” ra… Công ty có đơn yêu cầu Cty Đức Thành phải trả số nợ 11,493 tỷ đồng và 48.394 USD, ngoài ra xác nhận Cty Băng Dương còn lại 10% tương đương 1,056 triệu USD trong gói thầu 1000B mà hiện nay chủ đầu tư SSIT còn tạm giữ. Bằng những chứng cứ không rõ ràng nhưng TAND TP Cần Thơ ra phán quyết buộc Cty Đức Thành phải trả cho Cty Băng Dương 9,079 tỷ đồng và được sở hữu 1,056 triệu USD.

Căn cứ vào tài liệu mà PV có được, ngày 28-12-2007, Cty Đức Thành, Cty Hoàng Long An, Cty Băng Dương ký Hợp đồng liên danh số 01/LD để tham gia đấu thầu và thi công công trình cảng công-ten-nơ quốc tế Cảng Sài Gòn (SSA), gói thầu 1000B, ngày 22-4-2008 cả 3 công ty trên ký hợp đồng kinh tế số 2708/HĐ-XD với chủ đầu tư SSIT với tổng trị giá hợp đồng là 29.579.352 USD (chủ đầu tư giữ lại 10% và thanh toán cho liên doanh). Cty Hoàng Long An thực hiện 10% giá trị gói thầu (đóng toàn bộ đất thấm), Cty Băng Dương thực hiện 20% giá trị gói thầu (cung cấp 30% lượng cát san lấp), Cty Đức Thành thực hiện 70% giá trị gói thầu. Ngày 9-11-2009, ba liên danh tiếp tục ký phụ lục Hợp đồng số 2708 với chủ đầu tư SSIT phát sinh là 500.000m3 cát, khối lượng này sau này liên danh giao hết cho Cty Đức Thành thực hiện.

Ngày 8-5-2008, Cty Đức Thành và Cty Băng Dương ký phụ lục số 02/LD, trong đó Cty Băng Dương chịu trách nhiệm cung ứng cát 30% của gói thầu là 1.500.000m3, giá tiền là 5,91USD/1m3 cát (chưa tính VAT 10%), tổng giá trị hợp đồng 8.865.000 USD. Trong các biên bản làm việc mà liên danh ký kết, nếu bên Cty Băng Dương thực hiện khối lượng cát vượt quá 30% theo hợp đồng thì phải trả cho Cty Đức Thành 11.000 đồng/m3, còn Cty Đức Thành thực hiện san lấp vượt 70% theo qui định trong hợp đồng thì phải trả cho Cty Băng Dương 14.000 đồng/m3 (vì giá cát phát sinh thấp hơn giá cát trong hợp đồng).

Theo như cam kết ban đầu, sau khi trúng thầu gói thầu 1000B Cty Băng Dương phải góp vốn 12 tỷ đồng để thi công, nhưng Cty Băng Dương không có tiền thực hiện, Cty Đức Thành đã ứng ra 17 tỷ đồng tiền mặt cho Băng Dương thi công, trong 30% khối lượng cát và lợi nhuận này Cty Đức Thành được hưởng một nửa.

Mặc dù cam kết như vậy, nhưng TAND TP Cần Thơ vẫn cho rằng Cty Băng Dương đã thực hiện được 1.608.313 m3 cát, số tiền là 176,430 tỷ đồng, phía chủ đầu tư giữ lại 10% của khối lượng, Cty Đức Thành đã trả cho Cty Băng Dương 136.151 tỷ đồng. Cấn trừ số tiền trên, Cty Đức Thành còn nợ Cty Băng Dương 6,693 tỷ đồng (số liệu này Cty Băng Dương chưa đối chiếu công nợ với Cty Đức Thành), đồng thời cộng thêm số tiền vượt khối lượng cát thi công 190,509m3 của Cty Băng Dương đã thực hiện. Nếu chỉ nhìn vào số liệu của Cty Băng Dương cung cấp cho tòa thì ai cũng thấy hợp lý.

Theo báo cáo kiểm toán gói thầu 1000B mà Cty tư vấn kiểm toán Mỹ cung cấp, đối chiếu thanh lý hợp đồng giữa Cty Đức Thành với Cty Băng Dương lại có kết quả ngược lại với những số liệu mà TAND TP Cần Thơ đưa ra, trong tổng khối lượng cát Cty Băng Dương thi công từ tháng 5 đến tháng 9-2008 là 1.608.313m3 = 10.568.569.62 USD, tính sang là 176,552 tỷ đồng. Nhưng theo nghiệm thu của chủ đầu tư chỉ công nhận có 1.452.578m3 cát, như vậy Cty Băng Dương đã khai khống khối lượng cát thêm 155.135m3. Cty Băng Dương phải hoàn trả lại tiền cát thâm hụt là 1.012 triệu USD cho Cty Đức Thành. Còn việc cam kết chi trả tiền thực hiện san lấp vượt khối lượng theo hợp đồng, trên thực tế Cty Băng Dương vượt 30% thi công khối lượng là 190.509m3 cát và tính thành tiền là 2,09 tỷ đồng, còn Cty Đức Thành thực hiện khối lượng phát sinh 500.000m3, đồng ý thanh toán 30% giá trị thành tiền là 2,1 tỷ đồng. Nếu cấn trừ cho nhau thì không bên nào nợ bên nào… Căn cứ biên bản ngày 25-4-2008, Cty Băng Dương phải trả 10% chi phí quản lý tổng hợp theo hợp đồng là 858,474 USD nhưng tòa không đề cập đến trong xét xử. Ngoài số tiền trên, trong báo cáo kiểm toán nêu rõ số tiền mà Cty Băng Dương vay Cty Đức Thành như: “Ngày 1-6-2009 ông Phạm Văn Cường tút tiền từ TK 779 là 1 tỷ đồng, ngày 8-7-2009, ông Cường mượn 1 tỷ đồng (giấy vay tiền); ngày 13-3-2009, bà Nguyễn Thụy Hà Uyên (Cty Băng Dương rút tiền 4,958 tỷ đồng); ngày 19-3-2009, bà Hà Uyên rút tiếp 1,580 tỷ đồng”. Tất cả số tiền này TAND TP Cần Thơ cũng bỏ quên luôn, mặc dù trong quá trình xét xử Cty Đức Thành cũng đã đưa ra số tiền trên.

Sau khi có số liệu báo cáo của Công ty tư vấn kiểm toán Mỹ đã xác định trong quá trình hợp tác liên danh thực hiện gói thầu 1000B san lấp cát dự án cảng SSA, không thấy Cty Băng Dương góp vốn được tỷ nào mà ngược lại Cty Băng Dương đã được hưởng lợi quá nhiều. Trong báo cáo kiểm toán đã chỉ rõ sau khi cấn trừ nợ tiền khối lượng cát thi công gói thầu, Cty Băng Dương còn nợ Cty Đức Thành là 15,791 tỷ đồng và 814.050 USD. Như vậy TAND TP Cần Thơ đã bỏ rơi quá nhiều chứng cứ quan trọng và làm cho Cty Đức Thành thiệt hại rất lớn.

Trao đổi với PV Báo CCB Việt Nam về những điều bất thường của Bản án 35, ông Nguyễn Thanh Thiên, Chánh án TAND TP Cần Thơ cho biết: “Vụ xử sơ thẩm đó đã có kháng cáo, tòa phúc thẩm tối cao đang nghiên cứu, có gì các anh cứ liên hệ với tòa phúc thẩm. Còn việc liên quan đến chứng từ giả có hay không, trách nhiệm đó của cấp trên anh ơi, nếu sử dụng chứng từ giả gì đó thì người ta sẽ xem ở cấp trên…”. Nếu căn cứ theo trả lời của ông Thiên như vậy thì cấp tòa xét xử sơ thẩm của TAND TP Cần Thơ có giá trị gì trong tòa án? Liệu Bản án 35 đã xử ở trên có phải là bản án đã được “ bỏ túi” từ trước? Dư luận cũng đang rất quan tâm đến vụ việc trên, hy vọng Toà phúc thẩm TAND tối cao tại TP Hồ Chí Minh xét xử vào ngày 19-12-2011 tới đây sẽ là nơi thực sự có công lý.

Bài và ảnh: Thanh Nghĩa