Cần giảm chi phí quản lý các chương trình xóa đói giảm nghèo

Theo đánh giá gần đây nhất của FAO, Việt Nam là một trong những nước đạt được thành tích nổi bật trong việc giảm số người bị đói từ 46,9% (32,16 triệu người) giai đoạn 1990-1992 xuống còn 9% (8,01 triệu người) trong giai đoạn 2010-2012 và đã đạt được mục tiêu MDG1.
Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, đặc biệt là ở những huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao. Tại cuộc họp của Ban Chỉ đạo T.Ư về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020, đã có nhiều ý kiến phân tích xung quanh việc triển khai có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo bền vững trong thời gian tới.
Quỹ “Xóa đói giảm nghèo” của Việt Nam giai đoạn 2011-2013 đã đạt mức 120 nghìn tỷ đồng/năm (khoảng 5,5 tỷ USD/năm). Đây là một số tiền không nhỏ, tương đương 2/3 thu ngân sách của TP Hà Nội, có thể xây được 100 sân vận động quy mô như sân Mỹ Đình, bằng kinh phí xây dựng cả hệ thống metro ở TP Hồ Chí Minh (khoảng 5 tỷ USD). Cùng với việc tiếp tục thực hiện các chính sách giảm nghèo chung trong cả nước, Chính phủ vừa có chính sách, giải pháp đột phá đối với 62 huyện nghèo (gồm 2,4 triệu người, trên 90% là đồng bào dân tộc thiểu số, sống phân tán, thu nhập thấp) để thực hiện mục tiêu đến năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống ngang bằng mức trung bình của tỉnh và đến năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống mức ngang bằng mức trung bình của khu vực…
Tuy nhiên kết quả của công tác xóa đói giảm nghèo chưa tương xứng với những nỗ lực đầu tư. Như Bộ trưởng Bộ LĐTBXH Phạm Thị Hải Chuyền đã nhận định: Do có nhiều chính sách nên nguồn lực đầu tư cho giảm nghèo bị phân tán hoặc chồng chéo, thiếu tập trung. Kết quả giảm nghèo chưa đồng đều, chưa vững chắc. Địa bàn các xã nghèo miền núi, vùng dân tộc thiểu số tỷ lệ hộ nghèo còn cao, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số còn chiếm khoảng 50% trong tổng số hộ nghèo cả nước. Tỷ lệ hộ tái nghèo, hoặc phát sinh nghèo hằng năm còn cao, bình quân 3 hộ thoát nghèo có 1 hộ tái nghèo…
Một nguyên nhân không kém phần quan trọng đó là bộ máy quản lý các chương trình, dự án giảm nghèo của chúng ta còn quá đồ sộ. Do vậy, số tiền đầu tư cho lĩnh vực này thực sự chỉ chiếm khoảng 1/3 kinh phí đã huy động. Thêm vào đó, mức kinh phí “khiêm tốn” ấy khi đến tận tay người dân còn tiếp tục hao hụt khi còn phải dành cho những khoản chi phí như việc đào tạo, cấp vốn, hỗ trợ việc làm, giáo dục, đời sống... cho người nghèo.
Chính vì thể, để công tác xóa đói, giảm nghèo thực hiện có hiệu quả và bền vững, bên cạnh việc rà soát lại các cơ chế, chính sách để nhanh chóng có sự điều chỉnh phù hợp thì cần phải tái cơ cấu bộ máy vận hành, quyết liệt “tinh giản biên chế”, loại bỏ những trường hợp “ăn theo” các đối tượng trong diện xóa đói giảm nghèo. Có như vậy guồng máy mới tinh, gọn, vận hành trơn tru, đưa những cơ chế, chính sách mang tính nhân văn của Đảng và Nhà nước trở thành hiện thực trong cuộc sống.
Dương Sơn