**Dùng chứng cứ giả để chiếm đất thật! **

Sau hơn 10 năm kiên trì bàn bạc, thương lượng với ông Lê Quý Anh và gần 1.000 ngày đi gõ cửa khắp các cơ quan chức năng trong tỉnh để kêu oan không được, cuối năm 2007, ông Lê Thành Công, cựu tù chính trị Côn Đảo, thường trú 288 Nguyên Tử Lực, phường 8, TP Đà Lạt buộc lòng viết đơn khởi kiện UBND tỉnh Lâm Đồng vì đã ban hành Quyết định số 1709/QĐ của UBND tỉnh ngày 29-6-2007 về việc điều chỉnh bỏ một đoạn Quyết định số 89/QĐ-UBND ngày 16-1-2004. Với quyết định này, ông Lê Quý Anh (nhà bên cạnh ông Công) đã được điều chỉnh đất tăng lên 420m2 so với diện tích thực tế. Theo đơn khiếu nại của ông Lê Thành Công, thì diện tích đất mà ông Lê Quý Anh "được ghi tăng" chính là diện tích đất của ông Lê Thành Công đã sang nhượng lại của ông Đỗ Khờ và bà Trần Thị Tam vào ngày 9-6-1981.

Xem lại toàn bộ hồ sơ vụ án chúng tôi nhận thấy rằng những giấy tờ sang nhượng đất của các ông Lê Chánh và Lê Quý Anh ghi ngày 1-1-1976 đều là giả mạo!

Cùng một ngày 1-1-1976, ông Lê Quý Anh và người cháu là Lê Chánh đã viết liền hai tờ giấy sang nhượng đất cùng một nội dung nhưng diện tích khác nhau: "Vợ chồng ông Lê Chánh đồng ý sang nhượng cho ông Lê Quý Anh thửa đất có diện tích 3.000m2, đến tờ thứ hai lại ghi tăng lên 3.142m2". Hai tờ giấy viết tay này cùng một ngày mà chữ ký của ông Lê Chánh lại khác nhau. Điều trớ trêu hơn nữa là hai tờ giấy nói trên điều viết từ ngày 1-1-1976 mà đã "tiên đoán" được tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nên hai ông đã ghi tiêu đề tờ giấy sang nhượng đất là "Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc". Thực tế hơn 6 tháng sau, ngày 3-7-1976, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI của nước Việt Nam thống nhất mới thông qua việc đặt tên nước ta là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Sở dĩ ông Lê Quý Anh phải viết đến hai tờ giấy sang nhượng đất bởi vì nếu viết tờ giấy thứ nhất chỉ ghi diện tích 3.000m2 thì không đủ cơ sở chiếm trọn gò đất cao (phía nam gò đất là một đường thẳng làm ranh giới giữa thửa đất của ông Lê Thành Công và ông Lê Quý Anh). Do vậy, ông Lê Quý Anh phải viết thêm tờ giấy thứ hai tăng diện tích sang nhượng lên 3.142m2 mới có thể hợp thức hóa giấy tờ để tham mưu cho UBND tỉnh ra Quyết định 1709 ngày 29-6-2007, điều chỉnh tăng lên 420m2, rất trùng khớp với tổng diện tích của tờ giấy sang nhượng đất giả mạo đã ghi (là 3.142m2 - 2.722m2 = 420m2).

Ngoài những chứng cứ giả mạo nói trên, trong hồ sơ vụ án còn có một tờ đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đề ngày 19-8-1994 của ông Lê Quý Anh đã ghi diện tích đất đăng ký rất trùng khớp với tờ giấy viết tay sang nhượng đất của ông Lê Chánh và ông Lê Quý Anh là 3.142m2, nhưng tờ đơn ấy lại không có chữ ký của ông Lê Quý Anh và không có dấu đóng mực đỏ với dòng chữ "Đã đăng ký ruộng đất" như các tờ đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất bình thường khác. Phải chăng đã có người nào đó vô tình đăng ký thay cho ông Lê Quý Anh?

Trong lúc đó, ông Lê Thành Công có đầy đủ giấy tờ sang nhượng đất hợp lệ, có đơn đăng ký quyền sử dụng đất vào ngày 1-8-1994 đúng mẫu quy định. Giấy tờ sang nhượng đất của ông Đỗ Khờ và bà Trần Thị Tam với nội dung ghi rõ: "Sang nhượng lại công san ủi thửa đất có diện tích 2.000m2, trong thửa đất ấy có một gò đất cao, phía nam gò đất là một đường thẳng ranh giới giữa đất Lê Thành Công và Lê Quý Anh, diện tích thửa đất của ông Lê thành Công được ghi cụ thể (bề rộng 25m, chiều dài 80m), thành 2.000m2 - lộ giới 176m2, còn lại 1.824m2. Thế nhưng trong sổ đỏ UBND TP Đà Lạt cấp cho ông chỉ ghi là 1.598 m2, thiếu 226m2 đất ở gò đất cao mà vợ chồng ông Đỗ Khờ viết giấy sang nhượng công san ủi cho Lê Thành Công (có chữ ký của Lê Chánh, con rể của Đỗ Khờ làm chứng). Diện tích đất ở gò đất cao chưa được cấp sổ đỏ, cũng chính là kẽ hở tạo cơ hội cho ông Lê Quý Anh tự tiện bang gò đất, lấn dần sang, sát cửa nhà ông Công để chiếm đoạt.

Trước sự việc nói trên, ông Lê Thành Công kiên trì bàn bạc thương lượng, nhưng ông Lê Quý Anh vẫn lấn tới. Ngoài việc lấn dần gò đất, ông Lê Quý Anh còn ngụy tạo giấy tờ sang nhượng đất, cùng với sự "giúp đỡ" của một số cán bộ cơ quan chức năng để hợp thức hóa giấy tờ bằng đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 19-8-1994 mà ông Lê Quý Anh không hề ký vào tờ đơn nói trên, vẫn được Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Lâm Đồng lập hồ sơ tham mưu cho UBND tỉnh ra Quyết định số 1709/QĐ-UBND, bác bỏ một đoạn Quyết định 89/QĐ-UB tăng thêm cho ông Lê Quý Anh 420m2 đất là hoàn toàn sai so với thực tế. Có một sự thật là có những người đã cố tình ngụy tạo giấy tờ giả mạo, kê khai khống diện tích so với thực tế để chiếm đoạt đất của người bên cạnh có giấy tờ sang nhượng công san ủi đất rất hợp lý, có người thứ ba làm chứng. Những cán bộ và các cơ quan được giao trọng trách bảo vệ pháp luật, có lẽ nào lại làm ngơ trước thực tế nói trên.

**Đòi lại sự công bằng, tìm ra lẽ phải **

Gần 80 tuổi đời, với 1.000 ngày lặn lội khắp nơi vẫn chưa được giải quyết thoả đáng, ông Lê Thành Công vẫn kêu oan, đòi lẽ phải. Ông đã hai lần viết đơn đề nghị TAND tỉnh Lâm Đồng và TANDTC TP Hồ Chí Minh cho giám định hai văn bản viết tay sang nhượng công khai phá đất của ông Lê Quý Anh và người cháu Lê Chánh cùng tờ đơn "Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất" của ông Lê Quý Anh nộp tại Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Lâm Đồng, nhưng cả hai lần đều không được chấp nhận. Ông Lê Thành Công tiếp tục gửi đơn lên TANDTC Trung ương. Tâm sự với chúng tôi trước khi ra Hà Nội, ông Lê Thành Công bộc bạch: Trong gần 40 năm hoạt động cách mạng gian khổ đầy thử thách, hy sinh, đặc biệt gần 11 năm bị tù đày ở Côn Đảo, bao nhiêu lần bị địch tra tấn, đánh đập dã man, nhưng ông luôn vững vàng ý chí, giữ vững phẩm chất khí tiết người cán bộ cách mạng. Thế mà bây giờ, cả gia đình và bản thân ông phải chịu thua thiệt, nhắm mắt làm ngơ, chịu đầu hàng khi sự thật đã rõ mười mươi, như vậy coi sao được!

Trước khi chia tay chúng tôi, ông còn nói thêm: Thực ra, việc đòi lại diện tích đất bị người ta ngụy tạo giấy tờ để chiếm đoạt không phải là mục đích chủ yếu. Điều lớn lao hơn rất nhiều là phải đòi sự công bằng, tìm ra lẽ phải, xác định rõ trắng đen.

NGUYỄN DUY NINH