50 năm "81 ngày đêm Thành cổ" (26-8 đến 16-9-1972): Ông Sơn giữ Thành cổ suốt 72 ngày

Đêm 4-7-1972, tại căn cứ Nhan Biều (Triệu Thượng, Triệu Phong, Quảng Trị), Đại đội 1 bộ binh (thuộc Tiểu đoàn 17 Công binh, Sư đoàn 325) nhận lệnh sang giữ Thành cổ Quảng Trị.

Vượt qua sông Thạch Hãn, Chính trị viên Cao Xuân Ý và Đại đội trưởng Trần Xuân Phúc ở hầm sát bờ sông, chỉ huy chiến đấu. Chính trị viên phó Nguyễn Anh Đào và Đại đội phó Trần Xuân Cắng cùng bộ đội vào thành...

Đến khi được lệnh rút quân khỏi Thành cổ, Đại đội 1 chỉ còn không đầy vài chục tay súng. Tiểu đội 9 còn duy nhất Hạ sĩ Hà Văn Sơn, quê thôn Lại Ốc, xã Long Hưng (Văn Giang, Hải Hưng, nay thuộc tỉnh Hưng Yên).

CCB Hà Văn Sơn kể: "Khi vào Thành cổ, Tiểu đội 9 có 12 người. Anh Nguyễn Đình Chinh, đảng viên làm Tiểu đội trưởng. Tôi đang là “cảm tình Đảng” - Tiểu đội phó. Chúng tôi chốt giữ cửa phía tây và hơn 200m bờ thành liền kề về phía cửa Bắc.

Bảo vệ Thành cổ là một câu chuyện đặc biệt. Tôi chỉ nói những điều tôi quan sát được và thuộc phạm vi nhiệm vụ của bản thân.

Ngày ngày, địch dội vào thành đủ loại đạn pháo 175mm, 105mm (khoan), pháo đinh (to bằng cái đinh 10 phân, có cánh xoay chong chóng đẩy ngập đinh vào cơ thể người tiếp xúc). Mỗi khi pháo dừng là bắt đầu sự hủy diệt bằng bom phạt và bom khoan các cỡ, cả tới 500 Bảng Anh. Bom na-pan thiêu trụi mặt đất. Bom bi các loại rơi như rắc mạ. Chất độc hóa học mù trời… Thành cổ lúc nào cũng như động đất. Tường dày hàng mét, chỗ trúng bom và đạn pháo, đổ vỡ thảm hại… Chúng tôi vừa phải lo tránh thương vong, vừa phải tiêu diệt bọn thủy quân lục chiến địch vào cướp thành. Bọn này thường từng tốp vượt tường, thậm chí liều mạng tràn qua các cửa thành. Ta đánh trả bằng súng AK, lựu đạn, súng cối, kẹp cả trung liên vào nách truy kích, dùng B40 thiêu đốt chúng.

Quân ta thương vong, trừ trường hợp thi thể bị tan nát lẫn trong bùn đất chưa thu nhặt được; còn lại, chúng tôi tìm mọi cách để chuyển cho lực lượng tải thương đưa về phía sau nhanh nhất. Bên địch, xác chết được chuyển đi chậm, chất đống như những bờ ngăn.

Bảo đảm hậu cần vô cùng khó khăn. Đêm đêm bộ đội ra sông Thạch Hãn vớt những bao gạo sấy do được tiếp tế. Nước để ăn uống, nếu lấy ở sông Thạch Hãn thì đỡ tanh hơn. Nhưng ra sông nhiều lần, dễ gặp địch phục kích. Bởi vậy, phải lấy nước ở hố bom trong Thành cổ ngâm gạo sấy thành cháo. Có lúc không thể chờ cháo, hoặc "sợ" cháo, cứ nhai gạo sấy rồi uống một bát nước...

Sau khi Đại đội trưởng Trần Xuân Phúc bị thương phải trở về bờ Bắc, Chính trị viên Cao Xuân Ý bị mảnh đạn pháo địch văng vào mạng sườn. Tôi cùng với đồng chí Thìn - y tá đưa anh vào Trạm phẫu trong ngôi nhà của viên Tỉnh trưởng Quảng Trị cũ ngay sát Thành cổ. Anh Ý chưa có gia đình. Trước khi chết còn gửi tôi cái áo len xanh, anh mua ở T.P Đông Hà khi trên đường vào đây, nói là về đưa cho cô em gái anh. Tiếc thay, bom đạn đã làm cháy hết mọi thứ.

Trước ngày quân ta rút khỏi Thành cổ vài hôm, cấp trên thông báo một đơn vị của Trung đoàn 95 (Sư đoàn 325) ở phía tây nam Thành cổ bị địch vây hãm, cần lực lượng giải cứu. Đại đội 1 chúng tôi, cán bộ các cấp đã thương vong gần hết. Tôi lên tiếng tập trung được hơn chục anh em khoẻ mạnh; nhập nhoạng tối, tìm cách tiếp cận đơn vị bạn để trợ giúp thì gặp một ổ phục kích của địch. Sau ít phút vừa kiên cường chống trả chúng, vừa cấp tốc đưa đồng đội bị thương vong ra chuyển cho bộ phận tải thương, chúng tôi phải trở về tiếp tục giữ thành.

Chiến đấu trong Thành cổ, mặc dù bị kẻ địch gây tan xương, nát thịt bất kỳ lúc nào, nhưng Quân giải phóng không bao giờ nguôi ý chí quyết chiến quyết thắng. Chỉ đến khi có lệnh của cấp trên mới chịu rút lui.

Vào khoảng 0 giờ ngày 16-9-1972, tôi trong nhóm thuộc Đại đội 1 rút khỏi Thành cổ sau cùng. Tôi bơi qua sông Thạch Hãn sang bờ Bắc cùng với Đại đội phó Trần Xuân Cắng, dưới những làn đạn tàn ác của địch”...

Trở lại căn cứ, Đại đội 1 được củng cố lực lượng rồi di chuyển đến vùng Tích Tường, Như Lệ phía tây thị xã Quảng Trị, tiếp tục chống giặc. Tháng 3-1973, anh Sơn và một số đồng chí thuộc Tiểu đoàn 17 được đơn vị cử về quê hương 1 tháng để báo công, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, tạo niềm hưng phấn cho thế hệ trẻ tiếp tục sự nghiệp giải phóng miền Nam. Sau đó, anh trở lại đơn vị, cùng đồng đội tiếp tục đánh giặc cho đến ngày toàn thắng…

Phạm Xưởng